Vi phạm chế độ một vợ, một chồng: Từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự

0
1940
5/5 - (27 bình chọn)

Ở góc độ xã hội, vi phạm chế độ một vợ, một chồng được biết đến như hành vi ngoại tình. Dưới góc độ pháp lý, tùy theo mức độ vi phạm, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt đến 03 năm tù.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luậ hôn nhân gia đình (24/7)t: 19006198

Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, hiểu thế nào?

Xét ở góc độ đạo đức, vi phạm chế độ một vợ, một chồng được biết đến như hành vi ngoại tình. Theo đó, ngoại tình được hiểu là một người đang có gia đình nhưng lại có quan hệ tình cảm với một người khác mà không phải là vợ hoặc chồng của họ.

Ngoại tình thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như: trao đổi những tin nhắn mùi mẫn, gạ gẫm, thể hiện tình cảm nam nữ, quan hệ tình dục… Khi một người bị phát hiện ngoại tình, người có hành vi vi phạm thường bị xã hội bàn tán, chỉ trích, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, quan hệ xã hội của họ.

Dưới góc độ pháp luật, vi phạm chế độ một vợ một chồng là hành vi một người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng với người khác chưa có vợ hoặc chồng. Đây là hành vi bị cấm trong chế độ hôn nhân và gia đình, được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, pháp luật quy định 02 chế tài xử phạt: (1) Xử phạt hành chính; (2) Truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vậy, như thế nào được coi là sống chung như vợ chồng? Khoản 7 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải thích “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”.

Theo định nghĩa này, không phải mọi trường hợp sống chung đều coi là chung sống như vợ chồng. Việc chung sống như vợ chồng có thể công khai hoặc không công khai nhưng phải thể hiện có cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Có thể chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung, cùng nhau xây dựng khối tài sản chung.

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng

Vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị xử phạt hành chính trong trường hợp hành vi thuộc quy định tại Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Người có hành vi vi phạm có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: (i) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; (ii) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; (iii) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; (iv) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Để có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hành vi chung sống như vợ chồng, chủ thể yêu cầu cần cung cấp chứng cứ để chứng minh vợ, chồng của mình có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác. Chứng cứ phải thể hiện bằng tài liệu, giấy tờ, video, hình ảnh,… Nếu họ không có con chung, không có tài sản chung, không có ai xác nhận rằng họ ăn ở với nhau như vợ chồng, không có cơ quan đoàn thể nào giáo dục trước đó thì cơ quan có thẩm quyền không thể xử phạt hành chính.

Luật sư Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:

“1- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: (a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; (b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; (b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Chủ thể của tội phạm:

Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này cả Khoản 1 và Khoản 2 đều là tội phạm ít nghiêm trọng.

Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tuy không phải là chủ thể đặc biệt nhưng có một đặc điểm khác với chủ thể của các tội phạm khác ở chỗ: người phạm tội hoặc người phạm tội cùng phải là người đang có vợ hoặc có chồng.

  • Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng – đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại cũng chính là giữ vững nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình.

  • Mặt khách quan:

Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau: (i) Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; (ii) Chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.

Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội phạm này là hậu quả nghiêm trọng, có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.vNếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì cũng chưa cấu thành tội

  • Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, thấy trước được hậu quả nghiêm trọng nhất định xảy ra hoặc có thể xảy ra, mong muốn cho hậu quả đó xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng người phạm tội thường bỏ mặc cho hậu quả nghiêm trọng xảy ra, miễn là được chung sống như vợ chồng với nhau.

Như vậy, người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù đến 03 năm.

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây