Xác định cha mẹ con khi có kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

0
528

Ở Việt Nam, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mới chỉ được áp dụng trong khoảng 20 năm trở lại đây. Pháp luật nước ta hiện hành cũng đã tham gia vào điều chỉnh mối quan hệ phát sinh từ việc áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản trong khoảng thời gian tương đương. Đặc biệt, vấn đề xác định cha, mẹ, con được quan tâm nhằm phân biệt rõ với việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên. 

thăm nuôi con
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Khái niệm chung về vấn đề xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Giải thích tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về khái niệm sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản như sau: “ Sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kĩ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”

Nói cách khác, đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có con như họ ước muốn. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, góp phần giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự tác động ô nhiễm môi trường; hậu quả chiến tranh,…đem lại hạnh phúc và hi vọng cho không ít các gia đình Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.

Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiêu biểu

Thụ tinh nhân tạo

Thụ tinh nhân tạo là biện pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung được tiến hành bằng cách chọn lọc tinh trùng khỏe nhất của người chồng, sau đó bơm vào buồng tử cung của người vợ ở thời điểm rụng trứng. Phương pháp này nhằm tăng khả năng đậu thai cho những cặp vợ chồng bị hiếm muộn do tinh trùng yếu, ít; cổ tử cung yếu; lạc nội mạc tử cung nhẹ… hoặc những lí do vô sinh hiếm muộn khác.

Thụ tinh trong ống nghiệm

Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP nêu ra: “ Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi;” Đây là phương pháp điều trị hiếm muộn trong các trường hợp: tắc nghẽn ống dẫn trứng; lạc nội mạc tử cung; tinh trùng yếu, ít, dị dạng;… Đây là biện pháp phổ biến được nhiều cặp vợ chồng vô sinh lựa chọn khi cần can thiệp kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Quá trình thụ tinh được xảy ra hoàn toàn bên ngoài cơ thể con người, sau khi hợp thành phôi thai có từ 4 đến 8 tế bào mới được đưa vào buồng tử cung của nữ giới bằng biện pháp kĩ thuật. Với công nghệ tiên tiến hiện nay, tỉ lệ thành công của biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm được đánh giá là khá cao.

Xem thêm: Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm quy định thế nào?

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải nghĩa khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ mang thai tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”. Pháp luật Việt Nam chỉ hợp pháp hóa hình thức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cần phân biệt rõ ràng sự khác biệt với mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Xem thêm: Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào

Khái niệm xác định cha mẹ con

Xem xét về khái niệm xác định cha, mẹ con có thể xem xét trên hai khía cạnh: dưới góc độ sinh học xã hội và dưới góc độ pháp lý. 

Dưới góc độ sinh học xã hội: xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ.

Dưới góc độ pháp lý, có thể xem xét vấn đề này trên ba tư cách là sự kiện pháp lý, quan hệ pháp luật và chế định pháp lý:

(i) Xác định cha, mẹ, con là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống.

(ii) Xác định cha, mẹ, con là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tư cách cha, mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh.

(iii) Xác định cha, mẹ, con là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành về quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể, căn cứ và thủ tục pháp lý nhằm nhận diện một người cha, một người mẹ, một người con có mối quan hệ huyết thống trực hệ. 

Tổng hợp lại, có thể đưa ra một khái niệm chung sau: Xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ, dựa trên quan hệ huyết thống hoặc dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Quy định của pháp luật về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Xác định cha mẹ con trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh

Trường hợp con sinh ra trong giá thú:

Con trong giá thú là con mà cha, mẹ là vợ chồng trước pháp luật. Đứa con sinh ra bằng biện pháp khoa học trong thời kì hôn nhân cũng được xác định là con trong giá thú. 

Khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.”

Theo đó, nguyên văn Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

“Điều 88. Xác định cha, mẹ

  1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

  1. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”

Như vậy, quy định của luật này mang tính tương đồng với trường hợp sinh con tự nhiên. Theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đứa trẻ sinh ra bằng biện pháp khoa học trong thời kì hôn nhân vẫn được thừa nhận là con chung của vợ chồng giống như đứa con huyết thống. Thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân cũng được áp dụng tương tự cho trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản khi xác định con trong thời kì hôn nhân.

Mặt khác, với nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác nhận là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay phôi từ người khác. Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, kể cả trong trường hợp không phải do người này cho tinh trùng.

Trường hợp con sinh ra trước thời kì hôn nhân được vợ chồng thừa nhận là con chung không áp dụng trong trường hợp này. 

Trường hợp con sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng không được cha thừa nhận:

Không thể áp dụng theo Khoản 2 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 vào trường hợp này được. 

Nguyên do là khi làm đơn yêu cầu thực hiện biện pháp kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, cả hai vợ chồng đều phải thể hiện ý chí đồng thuận và tự nguyện. Điều này đồng nghĩa người chồng đã thừa nhận mối quan hệ cha, con được chấp thuận.

Như vậy, pháp luật không cho phép việc tái xác định lại cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng biện pháp kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.

Trường hợp người vợ thụ tinh trong thời kì hôn nhân nhưng lại sinh con trong thời kỳ hôn nhân đã kết thúc

Có thể lấy thời hạn 300 ngày kể từ ngày chấm dứt thời kì hôn nhân như tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP có bổ sung tại Khoản 2 Điều 21 như sau: “Trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi bị chết mà cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao giấy khai tử hợp pháp từ phía gia đình người gửi, thì phải hủy số tinh trùng, noãn, phôi của người đó, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản.” . Như vậy nếu trong trường hợp người chồng chết thì tinh trùng vẫn có thể bảo quản nếu có đơn đề nghị từ phía vợ hoặc chồng, điều này thể hiện mong muốn vì mục đích nhân đạo, người đã mất vẫn có thể thực hiện việc sinh con. Thời hạn có thể vượt qua 300 ngày trong trường hợp này.

Xác định cha mẹ con trong trường hợp người phụ nữ độc thân

Khoản 2 Điều 93 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.”

Người phụ nữ độc thân được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả khi người mẹ này nhận tinh trùng và phôi từ người khác. Giữa đứa trẻ với người cho tinh trùng, cho phôi không có quan hệ cha, mẹ, con xảy ra. Đơn giản, trong trường hợp này chỉ phát sinh quan hệ mẹ con chứ không tồn tại quan hệ cha con.

Tuy nhiên, trong trường hợp người mẹ độc thân này kết hôn thì quan hệ cha con có thể phát sinh dựa trên căn cứ vào Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.  

Hiện nay, Việt Nam là một trong số ít nước thừa nhận cho phép phụ nữ độc thân sinh con bằng phương pháp kĩ thuật hỗ trợ sinh sản (bên cạnh Israel và Canada). Điều này thể hiện tính tiến bộ của pháp luật nước ta.

Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là điểm tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình 2014 so với những văn bản luật tương tự trước đó. Pháp luật hiện hành cho phép cặp vợ chồng vô sinh được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.”

Việc mang thai hộ không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ với đứa trẻ sinh ra. Quy định này là hợp lý vì mang thai hộ là vấn đề nhằm đảm bảo quyền làm cha mẹ của những cặp vợ chồng vô sinh không thể sinh sản dù đã áp dụng những biện pháp hỗ trợ sinh sản, người mang thai hộ chỉ nhằm mục đích giúp đỡ nhân đạo chứ không vì mục đích làm mẹ.

Căn cứ để xác định cha, mẹ,con trong trường hợp mang thai hộ dựa trên yếu tố huyết thống và thời kì hôn nhân của người nhờ mang thai hộ. Mang thai hộ được thực hiện với cặp vợ chồng hợp pháp, quá trình thụ thai diễn ra trong thời kì hôn nhân. Đứa trẻ chỉ được xem là con chung của vợ chồng trong trường hợp đứa trẻ đó được người mang thai hộ thụ thai thông qua kĩ thuật thụ tinh nhân tạo trong thời kì hôn nhân của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Xác định cha mẹ con trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng

Đối với trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng của người chồng. 

Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này không khác gì việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên. Áp dụng Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho trường hợp này.

Đối với trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng được hiến tặng.

Trường hợp này con sinh ra có huyết thống với vợ nhưng không cùng huyết thống với người chồng. Người vợ nghiễm nhiên mặc định là người mẹ. Cha của đứa trẻ được xác định căn cứ vào thời kì hôn nhân. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xác định trường hợp này.

Người hiến tặng không phát sinh quan hệ nào đối với đứa trẻ.

Vứt bỏ con đẻ
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Thủ tục xác định cha mẹ con trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Thủ tục hành chính

Thủ tục đăng kí khai sinh

Thủ tục đăng kí khai sinh được tiến hành theo quy định tại Mục 1 Chương II Luật hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hộ tịch năm 2014

Thẩm quyền việc đăng kí khai sinh là ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cha hoặc mẹ cư trú.

Về mặt cơ bản không có sự khác biệt so với hình thức thủ tục đăng kí khai sinh đối với trường hợp sinh con tự nhiên. Tuy nhiên, ở trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ngoài những giấy tờ theo thủ tục, cần bổ sung thêm văn bản xác nhận của cơ sở y tế thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Phần khai về cha, mẹ được xác định theo phía cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con

Việc đăng ký nhận cha, mẹ, con được tiến hành theo thủ tục quy định tại Mục 4 Chương II Luật hộ tịch năm 2014.

Thẩm quyền việc đăng kí nhận cha, mẹ, con là ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận.

Thủ tục tư pháp

Thủ tục tư pháp phát sinh khi có xảy ra tranh chấp trong việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp , việc giải quyết tại Tòa án sẽ được tiến hành theo thủ tục tố tụng , người có quyền yêu cầu phải làm hồ sơ khởi kiện để xác định cha, mẹ, con.

Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản được tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xem thêm: 

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.