Xác định nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn

0
840
5/5 - (20 bình chọn)

Nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn

Căn cứ vào mục đích vay nợ trong thời kỳ hôn nhân để xác định đó có phải nợ chung hay không. Hiển nhiên, nếu là nợ riêng thì sau khi ly hôn, nợ của người nào thì người đó có trách nhiệm phải trả.

Vậy đối với khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì sao? Sau khi đã ly hôn thì vợ, chồng có nghĩa vụ phải trả món nợ chung này nữa không?

Theo quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Như vậy, sau khi ly hôn, nếu hai vợ chồng vẫn có nợ chung thì bắt buộc cả hai người cùng phải thực hiện việc trả nợ. Tuy nhiên, vẫn có các trường hợp ngoại lệ sau:

– Do vợ chồng tự thỏa thuận hoặc thỏa thuận với người thứ ba;

– Do Tòa án quyết định nếu hai bên không tự thỏa thuận được với nhau. Lúc này, trong đơn xin ly hôn (đơn phương hoặc thuận tình), một trong hai người có thể yêu cầu Tòa án phân chia cụ thể trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật;

Nói tóm lại, việc trả nợ chung của vợ chồng sau khi ly hôn còn tùy thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng và người có quyền, lợi ích liên quan. Nếu thỏa thuận được thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận, nếu không thì có thể nhờ Tòa án định đoạt.

Luật sư tư vấn pháp luật – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900.6198

Xác định khoản nợ chung của hai vợ chồng

Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 bao gồm những khoản sau:

Một là, nghĩa vụ phát sinh từ việc bồi thường thiệt hại cho người khác mà việc gây thiệt hại xuất phát từ hành vi của vợ hoặc chồng nhưng hành vi gây thiệt hại đó không phải là hành vi vi phạm pháp luật hay các giao dịch dân sự do vợ chồng cùng có sự thỏa thuận, xác lâp, thực hiện thì cả vợ chồng cùng phải có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ đó.

Hai là, các nghĩa vụ do vợ, chồng thực hiện mà không có sự thỏa thuận hay bàn bạc với nhau từ trước, nhưng hành vi thực hiện giao dịch đó lại nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, có lợi cho hoạt động kinh doanh của gia đình thì cả hai vợ chồng phải cùng có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ đó.

Ba là, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của cả hai vợ chồng.

Bốn là, việc vợ, chồng sử dụng tài sản riêng của mình để nhằm mục đích duy trì, phát triển khối tài sản chung của vợ chồng hoặc việc sử dụng tài sản riêng đó tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho cả gia đình thì nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ đó vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới trả nợ.

Năm là, các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con chung của vợ chồng gây ra mà theo quy định của pháp luật dân sự thì cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường thay cho con cho bên bị thiệt hại. Trong trường hợp con chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.

Căn cứ vào tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân nên pháp luật xác định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung trong đó phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung. Có nghĩa là, mỗi chủ sở hữu có quyền đối với tất cả tài sản trong khối tài sản chung. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những khoản nợ mà một trong hai bên vợ, chồng thực hiện thì cả hai vợ chồng đều phải có trách nhiệm trả nợ. Về quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung thể hiện trong việc vợ chồng phải cùng nhau xây dựng, phát triển khối tài sản chung. Tuy nhiên, không phải giao dịch nào do vợ, chồng thực hiện cũng được xác định là nghĩa vụ chung của vợ, chồng.

Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng có ghi nhận về cách xác định các khoản nợ riêng của vợ, chồng như sau:

– Nghĩa vụ của một bên do vợ, chồng đang thực hiện mà trước khi kết hôn.

– Nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của vợ chồng.

– Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện mà không vì nhu cầu thiết yếu của gia đình. Ví dụ: vay tiền để mua đất đai cho người khác mà các thành viên trong gia đình không được hưởng bất kỳ lợi nhuận từ khoản đó thì nghĩa vụ trả nợ đó là nghĩa vụ riêng do chồng, vợ thực hiện.

– Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng. Ví dụ: chồng vay tiền để chơi cá độ bóng đá bị thua nợ thì vợ có phải trả không. Xét thấy hành vi chồng chơi cá độ bóng đá là một hành vi vi phạm pháp luật nên người chồng sẽ phải có trách nhiệm trả nợ mà không thể yêu cầu người vợ trả nợ cùng được.

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể có những khoản nợ, bồi thường thiệt hại hay thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng riêng…mà việc thực hiện giao dịch đó không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bên thực hiện giao dịch sẽ có trách nhiệm phải tự chi trả những nghĩa vụ đó.

Chế định về tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng hay các nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng. Việc nhà làm luật quy định rõ như vậy, để tránh các trường hợp một trong hai bên vợ, chồng lạm dụng việc quy trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong các giao dịch dân sự để yêu cầu bên còn lại phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

 

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây