Tội ra bản án trái pháp luật: Hình phạt và trách nhiệm bồi thường?

0
1527

Tội ra bản án trái pháp luật được quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người phạm tội danh này có thể bị phạt tới 15 năm tù.

– Tội ra bản án trái pháp luật là gì?

Tội ra bản án trái pháp luật được quy định tại Điều 370 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ra bản án trái pháp luật, được hiểu là hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm cố ý ban hành và công khai bản án trái pháp luật.

Trong đó, bản án là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử một vụ án. Bản án đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử, vì vậy nội dung của bản án phải phản ánh kết quả của phiên tòa và ý kiến phân tích, đánh giá của hội đồng xét xử.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

– Các yếu tố cấu thành tội ra bản án trái pháp luật

Khách thể của tội phạm

Hành vi ra bản án trái pháp luật xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng cụ thể là trong hoạt động xét xử. Đồng thời, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, công dân.

Đối tượng của tội ra bản án trái pháp luật là bản án. Bản án là một văn bản tố tụng do Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành bao gồm: bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hôn nhân và gia đình, bản án kinh tế, bản án lao động; bản án hành chính; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm.

Bản án ghi nhận quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nhận định của Tòa án và quyết định của Hội đồng xét xử. Thông thường, bản án trái pháp luật được thể hiện chủ yếu ở phần quyết định, vì phần này mang tính quyết định toàn bộ nội dung xét xử của Hội đồng xét xử và nó là nội dung mà cơ quan thi hành án và những người tham gia tố tụng căn cứ vào đó để thi hành. Tuy nhiên, trường hợp tính trái pháp luật ở phần mở đầu như: xác định không đúng, không đầy đủ người tham gia tố tụng, hoặc tính trái pháp luật thể hiện ở phần xét thấy như đưa ra những căn cứ không đúng sự thật để chứng minh cho kết luận trái pháp luật. Vì vậy, bản án trái pháp luật là bản án không đúng pháp luật có thể ở bất cứ phần nào của bản án.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chủ thể của tội phạm này là Thẩm phán và Hội thẩm – những người tiến hành tố tụng và trực tiếp ra bản án.

Mặt khách quan của tội phạm

a. Hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi ra bản án trái pháp luật là hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm tham gia trong Hội đồng xét xử ký vào bản án và ban hành bản án trong quá trình xét xử vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, lao động, kinh tế mà mình biết rõ là bản án đó trái quy định pháp luật. Hành vi ra bản án trái pháp luật được thể hiện ở việc:

(i) Thẩm phán, Hội thẩm áp dụng không đúng quy định pháp luật để giải quyết vụ án: có thể là áp dụng sai điều luật hoặc áp dụng tội danh, điều khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn mặc dù biết rõ hành vi ra bản án đó là trái pháp luật.

Như vậy so sánh tội ra bản án trái pháp luật (Điều 370) và tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm người có tội có sự khác biệt: Việc xét xử đối với bị cáo là đúng thủ tục và bị cáo là người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng Hội đồng xét xử lại xử sai về tội danh và áp dụng không đúng điều luật khi giải quyết vụ án đó mà biết rõ là việc ra bản án đó là trái pháp luật.

(ii) Thẩm phán, Hội thẩm xác định không đúng quan hệ pháp luật dẫn đến kết quả giải quyết, việc ra bản án sai.

Về hình thức, Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án trái pháp luật có thể bằng cách viết ra, tuyên án, ban hành bản án mà biết rõ là trái pháp luật.

Trong trường hợp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân mới nghị án, viết ra bản án tuy nhiên chưa tuyên án, chưa ban hành bản án thì chưa thỏa mãn hành vi khách quan của tội ra bản án trái pháp luật. Trường hợp bản án đã được thông qua trong phòng nghị án, có đủ các chữ ký của các thành viên Hội đồng xét xử nhưng vì lý do nào đó mà bản án đó chưa được tuyên đọc, chưa được ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức có liên quan chưa nhận được và bản án đó chưa được thi hành thì là trường hợp phạm tội chưa đạt.

Trong quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bao gồm quá trình nghị án để ra bản án trái pháp luật. Nghị án là cơ sở cho việc ra bản án, bình thường thì nội dung nghị án được xác định là tài liệu gốc, nếu giữa bản án và biên bản nghị án có sự khác nhau thì căn cứ vào biên bản nghị án để xác định. Vì vậy, nếu Thẩm phán tuyên đọc bản án hoặc ban hành bản án trái pháp luật nhưng biên bản nghị án lại không trái pháp luật thì chỉ có Thẩm phán chịu trách nhiệm về việc ra bản án trái pháp luật đó, còn Hội thẩm không chịu trách nhiệm bản án trái pháp luật đó. Tuy nhiên, hành vi nghị án và biên bản nghị án chưa phải là hành vi ra bản án. Vì vậy, nếu Hội đồng xét xử mới nghị án nhưng chưa ra bản án thì tuỳ trường hợp mà các thành viên của Hội đồng xét xử bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật quy định tại Điều 371 Bộ luật hình sự.

b. Hậu quả của tội ra bản án trái pháp luật 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này. Trong trường hợp gây ra hậu quả: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện; Gây thiệt hại về tài sản; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội…có thể truy cứu với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra bản án của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc để mặc hậu quả xảy ra.

Trong trường hợp vì lý do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà Thẩm phán, Hội thẩm không biết rõ là trái pháp luật thì không phạm tội danh này.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6198

Hình phạt đối với tội ra bản án trái pháp luật

Khung hình phạt cơ bản của tội ra bản án trái pháp luật là phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Trong trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể bị phạt tới 15 năm tù.

– Trách nhiệm bồi thường khi ra bản án trái pháp luật

Mọi hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong lĩnh vực tư pháp, Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử và ban hành bản án. Do vậy việc đưa ra bản án trái pháp luật thuộc về trách nhiệm của Tòa án. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi ra bản án trái pháp luật thuộc về Nhà nước. Tuy nhiên, lỗi ra bản án trái pháp luật thuộc về Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã ra bản án trái pháp luật do vậy, người đã ra bản án trái pháp luật có trách nhiệm hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.

Như vậy, bất cấp trong quy định về trách nhiệm bồi thường thể hiện: Việc ra bản án trái pháp luật của cá nhân có thẩm quyền tuy nhiên ngân sách nhà nước lại là nguồn để bồi thường cho người đã bị ra bản án trái pháp luật. Điều này dẫn đến việc các cá nhân có thẩm quyền đã đẩy lại trách nhiệm về phía nhà nước, gây lãng phí ngân sách.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp ra bản án trái pháp luật. Theo đó, bản án trái pháp luật là đối tượng để được yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, điều kiện để yêu cầu bồi thường được quy định bao gồm:(i) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; (ii) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

Như vậy, theo quy định chỉ trong trường hợp có thiệt hại thực tế, người bị thiệt hại mới được bồi thường.

Bài viết thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các luật sư, chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây