Bảo vệ không được tự khám xét, lục soát đồ của khách nghi ăn trộm

0
872
Đánh giá

Câu hỏi được nhiều người quan tâm: việc khám xét người, đồ đạc của các nhân viên cửa hàng có vi phạm pháp luật không? Trong trường hợp nào mới được khám người?

Chuyên viên Huỳnh Thu Hương - tư vấn về thủ tục làm căn cước công dân cho người tạm trú
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Chỉ khi có đủ căn cứ theo quy định, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được phép khám xét xác định hành vi trộm cắp.

Khám người là lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo, người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét màcó căn cứ cho rằng người đó đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ những vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án

Theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Thẩm quyền ra lệnh khám xét

Điều 193 Bộ luật tố tụng Hình sự quy định những người sau đây có quyền ra lệnh khám xét:

– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

– Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

– Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Ngoài ra, còn một số chủ thể khác được quy định tại khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 110 Bộ luật tố tụng Hình sự có quyền ra lệnh khám xét nhưng phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn.

Quy trinh thực hiện khám xét người theo quy định

Về khám xét người, điều 194 Bộ luật tố tụng Hình sự quy địnhnhư sau:

1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.

2. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.

3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.

Đối chiếu với các quy định nói trên, việc nhân viên bảo vệ tự ý khám người và túi xách của khách hàng là trái pháp luật.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 34 BLDS 2015, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Luật quy định, cá nhân có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, xin lỗi công khai, khắc phục hậu quả; Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ, khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trường hợp này, khách hàng có quyền yêu cầu cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý người vi phạm và buộc người vi phạm phải xin lỗi, bồi thường thiệt hại về uy tín, danh dự.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
    3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây