Vào nhà người khác đánh người, bị xử lý ra sao?

0
549
Đánh giá

Trường hợp người bị hại có đơn tố cáo và thương tích tới 11% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1, Điều 134 BLHS năm 2015 thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Tùy thuộc vào mức độ thực hiện hành vi phạm tội có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích,xâm phạm chỗ ở của người khác

Thứ nhất, về hành vi đánh người gây thương tích:

Căn cứ mức độ gây thương tích, hành vi đánh người có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó, Điều 134 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ,hung khí nguy hiểmhoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  2. b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  3. c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  4. d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

  1. e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  2. g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  3. h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  4. i) Có tính chất côn đồ.
  5. k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân…”

Trường hợp người bị đánh có thương tích dưới 11% thì tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính về lĩnh vực an toàn xã hội, an ninh trật tự; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình như sau:

“Điều 5: Vi phạm quy định về trật tự công cộng

  1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
  2. a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;
  3. b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  4. c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;…”

Như vậy, hành vi đánh người là hành vi vi phạm pháp luật, với hành vi này sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Nếu trong trường hợp gây thương tích cho người khác trên 11% hoặc dưới 11% mà thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Theo đó, mức phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Thứ hai, về hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác:

Điều 158 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội xâm phạm chỗ ở của người khác như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

  1. a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;
  2. b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;
  3. c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;
  4. d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác…”

Trường hợp một ai đó xông vào nhà và đánh người đã có hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác được quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 158 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Do đó, có thể bị truy cứu về tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 158 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, và mức phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  • Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:
    1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
    3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây