Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Bởi Trần Thu Thủy - 27/09/2021
view 403
comment-forum-solid 0
Hiện nay ở nước ta, đa phần cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện lạm quyền trong thi hành công vụ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với những thủ đoạn rất tinh vi, không chỉ gây nên nguy hiểm cho xã hội, mà còn xâm phạm trực tiếp đến những hoạt động của cơ quan, tổ chức, đồng thời cũng xâm phạm tới những lĩnh vực khác.

1- Định nghĩa về lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Hiện nay, đang có rất nhiều trường hợp lạm quyền trong khi thi hành công vụ, với thái độ hạch sách, nhũng nhiễu và với mục đích vụ lợi hành vi lạm quyền đã ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân.

Lạm quyền là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân, đã cố ý vượt quá giới hạn quyền lực cho phép, vượt quá quyền hạn mà pháp luật giao cho khi thi hành công vụ, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Căn cứ vào Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện lạm quyền trong thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi được xem là hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước.

 lạm quyền

2- Cấu thành tội phạm của Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ 

(i) Về mặt khách quan của tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là người phạm tội có hành vi lạm quyền. Lạm quyền ở đây có thể được hiểu là trong khi thi hành công vụ đã thực hiện và có những hành vi vượt quá quyền hạn của mình.

Hậu quả của việc này gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, cho tổ chức xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Hậu quả của tội lạm quyền trong khi  thi hành công vụ là dấu hiệu bắt buộc. Nếu hành vi lạm quyền chưa gây thiệt hại thì chưa cấu thành tội phạm này. Ngoài thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì còn có những hậu quả khác, tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong một số trường hợp thì nó lại trở thành yếu tố quyết định khung hình phạt như: hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

(ii) Mặt chủ quan của tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ được xác định khi người thực hiện hành vi lạm quyền trong lúc thi hành công vụ là do cố ý (trực tiếp cố ý), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật , thấy trước được hậu quả của hành vi lạm quyền nhưng vẫn có ý mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Và mục đích lạm quyền khi thi hành công vụ là vì vụ lợi.

(iii) Chủ thể của tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là con người thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định của Bộ Luật Hình sự thì chính họ sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó. Chủ thể của tội phạm này phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật, đó là người phạm tội có thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Bên cạnh đó thì chủ thể của tội này phải là những người có chức vụ và quyền hạn. Khi lợi dụng chức vụ cũng như quyền hạn của mình để thi hành công vụ họ mới có khả năng có hành vi lạm quyền.

(iv) Khách thể của tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Mặc dù tội phạm này gây thiệt hại cho lợi ích cho xã hội, cho nhà nước, cho quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng không vì thế mà khẳng định rằng khách thể của tội phạm này là những thiệt hại thực tế xảy ra cho nhà nước, cho xã hội và cho quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, mà những thiệt hại đó chỉ là hậu quả của hành vi phạm tội (dấu hiệu này thuộc mặt khách quan).

Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest

Ví dụ về lạm quyền trong thi hành công vụ

Chủ tịch xã H là ông Nguyễn Văn B cho ông Trần Văn T thuê một mảnh đất công trên địa bàn của xã để ông T mở cửa hàng buôn bán, kinh doanh. Số tiền thuê trong một năm là 150 triệu. Đối với hành vi này của ông B thì ông hoàn toàn không có quyền cho ông T thuê mảnh đất này.

Như vậy, qua ví dụ trên có thể thấy ông Nguyễn Văn B đã lạm dụng quyền làm chủ tịch xã của mình để cho ông Trần Văn T thuê đất công sau đó lấy tiền bỏ túi.

- Lỗi của ông B được xem là lỗi cố ý trực tiếp, ông B mặc dù biết rõ hành vi của mình là sai trái, gây thiệt hại cho Đảng và nhà nước nhưng ông vẫn cố tình lạm quyền cho thuê.

- Động cơ của ông Nguyễn Văn B là vụ lợi cá nhân và ông B đã trục lợi cho bản thân mình qua hành vi cho ông T thuê đất công với số tiền trong năm cho thuê là 150 triệu đồng. Thiệt hại thực tế có thể thấy là số tiền 150 triệu đồng.

- Với hành vi trên ông B đã vi phạm Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, ông B có thể sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

3- Chế tài áp dụng đối với tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

Điều 357 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định cụ thể như sau:

(i) Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

(ii) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

- Có tổ chức;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

(iii) Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

(iv) Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

(v) Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Theo đó, nếu hành vi lạm quyền trong thi hành công vụ chưa gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì có thể chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư  vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn

 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.53033 sec| 1034.961 kb