Mức xử phạt đối với hành vi ngoại tình

0
456
Đánh giá

Người có hành vi ngoại tình có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự do vi phạm chế độ một vợ một chồng.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đai tư vấn (24/7): 1900 6198

Hành vi bị cấm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

Điều 2 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là “tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm các hành vi sau: “a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.

Như vậy “Chung sống như vợ chồng” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Mức xử phạt đối với hành vi ngoại tình

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật“. Do đó, với hành vi phá hoại hạnh phúc gia đình, có thể bị xử lý như sau:

Xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, theo đó: “1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ”.

Ngoài hình thức phạt tiền trên, người vi phạm còn bị buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: (a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; (b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; (b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó“.

Trường hợp vợ chồng chưa ly hôn (và chưa quyết định việc ly hôn). Do đó, nếu người vi phạm chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, thì cơ quan có thẩm quyền chưa có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người này quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo như quy định trích dẫn trên, người chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đã có vợ sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu: (i) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc (ii) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Cần lưu ý, việc xem xét và xử lý trách nhiệm (hành chính, hình sự) là đối với cả hai người vi phạm.

Ngoài ra, người vợ/chồng có thể sử dụng một trong số các phương pháp hợp pháp như sau: (i) Gửi đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, hoặc phản ánh tới cơ quan chức năng (cơ quan quản lý, cơ quan Đảng) nơi người phá hoại hạnh phúc gia đình đang làm việc; (ii) Gửi đơn tới Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, Công an huyện nơi người đó cư trú, đề nghị xử lý hành chính (mức xử phạt hành chính là từ 01 đến 03 triệu đồng); (iii) Gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chồng/vợ và người đó phải chấm dứt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Nếu chồng/vợ muốn chấm dứt hôn nhân mà vợ/chồng không thuận tình ly hôn, người kia có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được“.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây