Nguyên tắc suy đoán vô tội – nguyên tắc cốt lõi của tố tụng

0
508
5/5 - (3 bình chọn)

Trong nền khoa học pháp lý hiện đại, nguyên tắc suy đoán vô tội đang là một trong những nguyên tắc cơ bản được ứng dụng rộng rãi cả trên thế giới và ở Việt Nam. Nguyên tắc này đã được công nhận trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là:“Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”.

Luật sư Trần Đình Thanh – Công ty Luật TNHH Everest, Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Hiểu thế nào là nguyên tắc suy đoán vô tội ?

Suy đoán có nghĩa là giả định, trong tiếng Latinh là Praesumptio. Suy đoán vô tội là thuật ngữ pháp lý, theo tiếng Anh là Presumption of innocence, thể hiện ở yêu cầu: Người bị buộc tội phải được coi là vô tội khi mà tội và lỗi của người đó chưa được chứng minh theo một trình tự mà pháp luật quy định và chưa được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Hiến pháp năm 1992 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề suy đoán vô tội tại Việt Nam, cụ thể Điều 72 Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 và coi nội dung được xác định tại điều luật này là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 chưa nêu rõ tên của nguyên tắc là suy đoán vô tội.

Hiến pháp năm 2013 quy định về nguyên tắc pháp lý suy đoán vô tội tại Khoản 1 Điều 31 như sau: “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Nhằm bảo đảm sự phù hợp của pháp luật tố tụng hình sự với Hiến pháp, Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã lần đầu tiên đưa khái niệm suy đoán vô tội trở thành một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, được cụ thể hóa bằng quy định:

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Có thể đưa ra khái niệm chung nhất về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, theo đó một người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội phạm của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục của luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Xem thêm: Nguyên tắc suy đoán vô tội được hiểu như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn: 19006198
Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn: 19006198

Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội

Căn cứ vào nội dung Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng như theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 , có thể nhận thấy nguyên tắc suy đoán vô tội có những nội dung chính như sau:

Điều kiện để người bị buộc tội bị coi là có tội

Người bị buộc tội bao gồm bị giữ, bị can, bị cáo chỉ bị coi là có tội khi đồng thời đáp ứng được hai điều kiện:

Điều kiện 1: Các cơ quan có thẩm quyền tố tụng chứng minh được lỗi của người bị buộc tội.

Yêu cầu này đặt ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự, ngoài ra cũng phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị, theo đó mọi người có quyền được hưởng tự do và an ninh cá nhân, không có ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ; người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật.

Việc chứng minh phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Nội dung này bảo đảm nguyên tắc pháp chế, là dấu hiệu quan trọng của chế độ pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi cao nhất cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện.

Điều kiện 2: Tòa án đã đưa ra bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

Chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên một người nào đó phạm tội và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ. Khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án thì người bị giữ, bị can, bị cáo vẫn chưa bị coi là có tội và không được đối xử với họ như người đã có tội.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm

Theo đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền, nhưng không phải chứng minh mình vô tội.

Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng ở từng giai đoạn tố tụng có sự khác nhau. Nhưng nhìn chung thì họ phải đảm bảo xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. 

Cùng với việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội còn được thể hiện trong việc quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chứ không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình. Quyền chứng minh sự vô tội của họ được thực hiện bằng quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền được đưa ra chứng cứ và yêu cầu, quyền được tranh tụng bình đẳng tại Tòa án… Quy định như vậy đảm bảo quyền lợi cho người bị buộc tội, giúp cơ quan tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án, tránh oan sai. Mặt khác, quy định như vậy thì trách nhiệm chứng minh vô tội không bắt buộc đặt lên người bị buộc tội. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vừa phải thực hiện xác định, xem xét các tình tiết buộc tội đồng thời phải xác định, xem xét các tình tiết gỡ tội.

Xem thêm: Nguyên nhân của tội phạm – Khái niệm và phân loại

Giải quyết vấn đề theo suy luận có lợi cho bị can, bị cáo

Khi có hoài nghi về trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo mà cơ quan tiến hành tố tụng không thể làm rõ được thì những hoài nghi đó phải được giải quyết theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Ví dụ, trong giai đoạn điều tra, nếu không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm mà thời hạn điều tra đã hết thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ vụ án. Trong giai đoạn xét xử nếu không đủ căn cứ để xác định bị cáo có tội thì hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không có tội.

Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để loại trừ nghi ngờ đó nhưng vẫn không chứng minh được bị can, bị cáo phạm tội. Nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội đã thể hiện sự nhân đạo của luật tố tụng hình sự đối với người bị buộc tội đồng thời buộc cơ quan tiến hành tố tụng xác dịnh được sự thật khách quan của vụ án.

Một số giải đáp về nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội được áp dụng cho lĩnh vực nào của tư pháp?

Nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ liên quan đến việc xác định một người là có tội hay không có tội. Vấn đề này thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự. Do vậy nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ có thể áp dụng vào một lĩnh vực tư pháp duy nhất là lĩnh vực hình sự, cụ thể hơn là tố tụng hình sự. Những lĩnh vực tư pháp phi hình sự khác như dân sự, kinh tế, hành chính không có yếu tố xác định có tội hay không, dĩ nhiên không thể áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội. Như vậy, nếu xét theo phạm vi áp dụng về không gian, nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ được áp dụng tại lĩnh vực tố tụng hình sự.

Nguyên tắc suy đoán vô tội áp dụng trong giai đoạn nào của tố tụng hình sự ?

Nguyên tắc suy đoán vô tội có thể được áp dụng đối với tất cả giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) và cả giai đoạn tiền tố tụng (trong trường hợp bắt, tạm giữ người bị tình nghi), thậm chí nguyên tắc này còn có hiệu lực khi bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp bản án kết tội bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Lý giải như sau:

Trước hết, hiểu về mặt lý luận, quá trình tố tụng hình sự được chia thành các giai đoạn khác nhau: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Thời điểm một người bị khởi tố với tư cách bị can cũng chính là thời điểm người đó bị buộc tội. Vì vậy, từ thời điểm bị khởi tố và trong các giai đoạn sau của trình tự tố tụng hình sự cho đến khi đưa ra bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, với tư cách là bị can, bị cáo, họ luôn có quyền được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội.

Tiếp theo, trong trường hợp người tình nghi bị bắt, tạm giữ. Mặc dù chưa bắt đầu trình tự tố tụng hình sự nhưng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế và hạn chế như bắt, tạm giữ phần nào đã thể hiện sự buộc tội. Do vậy, pháp luật đã coi người bị tình nghi là người bị buộc tội và từ thời điểm bị bắt, tạm giữ, người bị tình nghi có quyền được suy đoán vô tội.

Cuối cùng, khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, điều này đồng nghĩa với tội phạm đã được chứng minh và người bị kết án chính thức bị coi là có tội, phải thi hành án. Tuy nhiên, pháp luật còn quy định bản án có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị và được xem xét lại bởi thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (Khoản 2 Điều 20 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015). Để chấm dứt áp dụng suy đoán vô tội cần có đồng thời cả hai điều kiện: Tội phạm được chứng minh theo trình tự luật địnhCó bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, mặc dù đã có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chưa chứng minh được tội phạm theo trình tự luật định, bởi khi có kháng nghị bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, tính hợp pháp của bản án đã bị nghi ngờ, việc chứng minh cần được xem xét lại là chỉ thực sự kết thúc khi cấp giám đốc thẩm, tái thẩm ra các quyết định: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án; Hủy bản án và đình chỉ vụ án; Hủy bản án để điều tra lại hoặc xét xử lại. Lúc này, họ được quay trở lại với tư cách bị can, bị cáo và dĩ nhiên có quyền suy đoán vô tội.

Ai là người có trách nhiệm suy đoán vô tội?

Chủ thể có trách nhiệm tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội bao gồm không chỉ có các cơ quan, người tiến hành tố tụng, một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động tố tụng mà cả những chủ thể khác như cơ quan, tổ chức xã hội, báo chí và truyền thông. Khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì tất cả các chủ thể này đều phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử với người bị buộc tội như người không có tội.

Suy đoán vô tội là quyền con người và cũng là quyền cơ bản của công dân khi họ bị buộc tội. Yêu cầu không bị coi là người có tội khi chưa được chứng minh là bắt buộc không chỉ đối với chủ thể tiến hành tố tụng mà còn bao hàm cả những chủ thể không tham gia vào hoạt động tố tụng. Ví dụ, không thể để báo chí kết tội một người khi chưa có đủ căn cứ chứng minh về tội phạm cũng như chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, điều này sẽ dẫn đến sự vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội.

Ai có quyền được suy đoán vô tội?

Sự buộc tội có thể xuất hiện ở giai đoạn tiền tố tụng trong trường hợp bắt, tạm giữ người bị tình nghi và tồn tại trong các giai đoạn của tố tụng hình sự: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ áp dụng với đối tượng là “người bị buộc tội”. Họ là người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử. Một trường hợp khác là bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm (tái thẩm) thì “người bị kết án” lại được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội vì trong trường hợp này việc chứng minh tội phạm sẽ được xem xét lại từ đầu trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.