Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Bởi Trần Thu Thủy - 27/07/2020
view 1156
comment-forum-solid 0
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là một trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015. 

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là gì?

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội được quy định tại Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự). Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội được hiểu là hành vi của người có thẩm quyền cố ý không truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội.

Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội không truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là chủ thể đặc biệt, bao gồm những người có thẩm quyền trong việc thực hiện hành vi tố tụng như: Người có quyền ra quyết định khởi tố bị can; người có quyền đề nghị truy tố và người có quyền quyết định truy tố bị can trước toà án.

Cụ thể: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên.

Ngoài những người trên, đối với người phạm tội ít nghiêm trọng còn có thể còn có người có thẩm quyền của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự.

Khách thể của tội phạm

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội không chỉ xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân) mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Mặt khách quan của tội phạm

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội có cấu thành hình thức. Về mặt khách quan,chỉ cần người phạm tội thỏa mãn hành vi khách quan mà không đòi hỏi hành vi đó phải gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Hành vi khách quan của tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội được thể hiện ở hành vi (không hành động) của người tiến hành tố tụng (như Thủ trưởng cơ quan điều tra, Kiểm sát viên,...) có thẩm quyền đã không thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người mà mình biết rõ là có tội. Cụ thể là có một trong các hành vi sau:

(i) Không ra quyết định khởi tố bị can khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội;

(ii) Không ra quyết định truy tố bị can khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và người phạm tội;

Một người được coi là không có tội nếu thuộc một trong các trường hợp sau: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá.

Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ bị can, bị cáo là người phạm tội nhưng vẫn không buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã thực hiện. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Động cơ của người phạm tội có thể khác nhau, do thủ tức, do tư lợi, do bị ép buộc v,v.. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu định tội. Tính chất của động cơ có thể được xem xét đến khi quyết định hình phạt.

Hình phạt

Khung hình phạt cơ bản đối với tội không truy cứu truy cứu trách nhiệm người có tội là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (Khoản 1 Điều 369 Bộ luật Hình sự). Khung hình phạt tăng nặng đối với tội phạm này được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 369 Bộ luật Hình sự. Theo quy định này thì mức hình phạt tối đa đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là 12 năm tù.

Ngoài hình phạt chính được nêu ở trên, thì người phạm tội còn bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.40326 sec| 1000.359 kb