Vụ án ‘tranh chấp quyền sử dụng đất tại Mộc Châu (Sơn La)’: ‘Hợp đồng tưởng tượng’ được ‘hợp pháp hóa’ bằng Bản án!

0
3109
5/5 - (12 bình chọn)
  1. Trong vụ án dân sự: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La), nguyên đơn Trần Thu Hằng (“bà Hằng”), đã tưởng tượng ra một ‘hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất’ không có trên thực tế với bị đơn Phạm Văn Trọng, Lê Thùy Dung (“ông Trọng, bà Dung”), rồi khởi kiện ra Tòa án để đòi tiền. 

Mời bạn đọc xem chuỗi video về vụ án này. Do một số vấn đề nhạy cảm nên bạn đọc vui lòng điền mật khẩu: 123456 để có thể xem video. Everest chân thành xin lỗi vì bất tiện này.

Phần 01

Phần 02

Phần 3

Vấn đề nghiêm trọng hơn, yêu cầu phi lý của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền (hoặc trả lại đất) theo ‘hợp đồng tưởng tượng’ này đã được Hội đồng xét xử sơ thẩm (gồm thẩm phán Tăng Thị Hải Oanh, các hội thẩm nhân dân Đỗ Đình Bản, Tường Duy Bình) hợp pháp hóa bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2022/DS-ST ngày 10/3/2022, với những phán quyết đi ngược lại quy định của pháp luật dân sự và logic thông thường.

Nhận thấy, hồ sơ vụ án không có chứng cứ nào chứng minh nào sự tồn tại của ‘hợp đồng tưởng tượng’ này (“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể – Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự). Đặc biệt, bằng việc ra bản án hợp pháp hóa ‘hợp đồng tưởng tượng’ – chưa từng có trong lịch sử ngành tư pháp Việt Nam – nguyên đơn (bà Hằng) đã chiếm đoạt tài sản tài sản của các đương sự khác trong vụ án tài sản trị giá: 3.840.000.000 đồng (ba tỷ, tám trăm bốn mươi triệu đồng), Công ty Luật TNHH Everest đã có văn bản gửi Cục Điều tra – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Cơ quan tố tụng tỉnh Sơn La, yêu cầu làm rõ hành vi có dấu hiệu ra bản án trái pháp luật, lừa đảo chiểm đoạt tài sản.

Hồ sơ thể có 03 thửa đất hoàn toàn khác nhau: thửa đất số 87, thửa đất số 87a, thửa đất số 87b, nhưng Hội đồng xét xử lập luận thửa đất số 87a, thửa đất số 87b ,vì: thửa đất 87a… phải là thửa đất 87b.

– Nguyên đơn Trần Thu Hằng đã ‘tưởng tượng’ ra một ‘hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất’ với bị đơn thế nào?

Ngày 08/10/2018, bị đơn Phạm Văn Trọng, Lê Thùy Dung (ông Trọng, bà Dung) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, có diện tích 452,7 m2, thửa đất số 87b, tờ bản đồ số 28, tại tiểu khu 32, thị trấn Nông Trường, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, giá trị hợp đồng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Công Dũng, Hà Thị Hòa (ông Dũng, bà Hòa). Nguyên đơn (bà Hằng) trong vụ án này là người môi giới. Hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng Công chứng Đặng Vĩnh Mình (huyện Mộc Châu). Các bên (ông Trọng, bà Dung – ông Dũng, bà Hòa) hoàn thành nghĩa vụ trả tiền, bàn giao đất, không có tranh chấp.

Ngày 03/01/2019, nguyên đơn (bà Hằng) nhờ bị đơn (ông Trọng, bà Dung) ký hộ một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, nội dung: “Quyền sử dụng đất đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 907536, mang tên Hà Thị Hòa, diện tích đất sử dụng là 776 m2 thuộc tờ bản đồ số 28, Thửa đất 87; đất ở diện tích là 150 m2 sử dụng lâu dài, Thửa đất số 87a diện tích đất là 452,7 m2 địa chỉ tiểu khu 32 thị trấn Nông Trường, Mộc Châu, Sơn La”, giải thích rằng để nhằm giãn nợ với chủ nợ. Bị đơn (ông Trọng, bà Dung) thấy: thửa đất 87a có diện tích 452,7 m2 – không có thực, nên đã ký vào hợp đồng này, nghĩ là để giúp bạn (bà Hằng).

Ngày 02/04/2021, bị đơn (ông Trọng, bà Dung) đã ký hợp đồng chuyển nhượng với  người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Đình Phẩm (“ông Phẩm”). Ngay trong ngày, theo thỏa thuận ba bên, bị đơn (ông Trọng, bà Dung) hủy hợp đồng đã ký với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Phẩm) để ký hợp đồng chuyển nhượng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn Thành (“ông Thành”), với giá trị: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Hợp đồng được công chứng bởi Công chứng viên Bùi Thị Thuận tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Sơn La.

Ngày 12/4/2021, bà Hằng (nguyên đơn) nộp đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, đề nghị: Tòa án xem xét, giải quyết buộc bị đơn (ông Trọng, bà Dung) có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng đất còn nợ là 2.453.000.000 đồng (theo hợp đồng giả ngày 03/01/2019). Nếu không trả được tiền thì trả lại đất thửa đất đã bán có diện tích 452,7 m2, tại tiểu khu 32, thị trấn Nông Trường, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Ngày 10/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu đã ra Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2022/DS-ST (Hội đồng xét xử gồm thẩm phán Tăng Thị Hải Oanh – chủ tọa, các Hội thẩm nhân dân Đỗ Đình Bản và Tường Duy Bình), công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tồn tại) giữa nguyên đơn (bà Hằng) và bị đơn (ông Trọng, bà Dung), từ đó tước đoạt tài sản là: quyền sử dụng đất có diện tích đất 452,7 m2, thuộc thửa đất số 87b, tờ bản đồ số 28, tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La của đương sự khác, giá trị tài sản chiếm đoạt có giá trị 3.840.000.000 đồng (ba tỷ, tám trăm bốn mươi triệu đồng) theo biên bản định giá tài sản ngày 03/12/2021.

Nguyên đơn Trần Thu Hằng trước khi khởi kiện ra Tòa đã sử dụng các biện pháp ‘xã hội đen’: Đăng bài viết, Livestream trên Facebook, cho người phun sơn, viết lên tường đe dọa…

– Những nhận định phi lý, phán quyết rõ ràng trái pháp luật dân sự: cấu kết lừa đảo chiểm đoạt tài sản của các đương sự trong vụ án.

Một là, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/4/2017” giữa nguyên đơn (bà Hằng) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) với nhận định, Bản án số 09/2022/DS-ST quyết định: “mặc dù vi phạm về hình thức là chưa công chứng, chứng thực, tuy nhiên bên ông Dũng, bà Hòa đã thực hiện nghĩa vụ giao đất; bên bà Hằng đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền” – là phán quyết trái pháp luật. Hồ sơ vụ án không có bất cứ chứng cứ nào thể hiện bị đơn (ông Trọng, bà Dung) biết và thừa nhận “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/4/2017”. Hợp đồng này không chỉ vi phạm về hình thức, mà đối tượng là các thửa đất được đang được thế chấp tại Quỹ Tín dụng nhân dân thị trấn Nông trường Mộc Châu (theo Hợp đồng số 615/HĐ ngày 21/4/2011, xóa nội dung thế chấp vào 10/4/2017). Nghĩa là, ngày 03/04/2017, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) và nguyên đơn (bà Hằng) không thể thực hiện giao dịch các thửa đất này.

Hai là, chứng cứ là tài liệu do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mộc Châu cung cấp thể hiện rõ – có 03 thửa đất hoàn toàn khác nhau: thửa đất số 87, thửa đất số 87a, thửa đất số 87b. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: “… tài liệu do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Mộc Châu cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hòa được tách thành thửa thứ nhất là thửa 87: 150 m2 đất ở, thửa thứ hai là 87a: 420,3 m2 đất trồng cây hàng năm, thửa thứ ba là thửa 87b: 452,7 m2…”, thế nhưng lại đưa ra nhận định: “… diện tích đất đang tranh chấp được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2021 là thửa đất số 87b, tờ bản đồ số 28 là phù hợp với các tài liệu do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Mộc Châu cung cấp…”. Từ đó, nhận định phi lý: nguyên đơn (bà Hằng) là chủ sử dụng của thửa đất số 87a (trong “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019”) chính là thửa đất số 87b (dòng thứ 22, trang 13 của Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2022/DS-ST ngày 10/03/2022). Đồng thời, nhận định: “cần xác định đã có việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Hằng, với ông Trọng, bà Dung, diện tích chuyển nhượng là 452,7 m2, thuộc thửa đất 87b, tờ bản đồ số 28”.

Ba là, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố công nhận: Hợp đồng chuyển nhượng (tưởng tượng) giữa nguyên đơn (bà Hằng) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung). Trong hồ sơ vụ án, ngoài lời khai của nguyên đơn (bà Hằng), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) hoàn toàn không có bất cứ chứng cứ nào thể hiện sự tồn tại hợp đồng này. Đây là phán quyết trái ngược hoàn toàn với quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể” (Khoản 1 Điều 119), quy định về địa điểm giao kết hợp đồng (Điều 399), thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 400).

Bốn là, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố vô hiệu: “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/10/2018” (đã được công chứng) giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung), lý do: nhằm che giấu Hợp đồng chuyển nhượng giữa nguyên đơn (bà Hằng) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung), nghĩa là: đã dùng chứng cứ giả (Hợp đồng chuyển nhượng tưởng tượng – giữa nguyên đơn (bà Hằng) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung phân tích trên), để hủy bỏ hiệu lực của chứng cứ được pháp luật công nhận: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh…” (Điều 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014).

Năm là, dấu hiệu lừa đảo rõ ràng trong “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019”, không được xử lý đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn (bà Hằng) khai rằng, mình mới là người chuyển nhượng thửa đất (mang tên ông Dũng, bà Hòa) sang cho bị đơn (ông Trọng, bà Dung) vào ngày 8/10/2018, đồng thời lý giải: “Tôi đã nhờ ông Dũng, bà Hòa trực tiếp ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trọng, bà Dung để đảm bảo trách nhiệm trong việc chuyển nhượng đất giữa tôi và ông Trọng, bà Dung…” (đơn khởi kiện), “do đó để đảm bảo căn cứ đòi nợ đối với số tiền còn lại nên ngày 03/01/2019 giữa tôi và anh Trọng, chị Dung ký tay với nhau một hợp đồng chuyển nhượng làm cơ sở để xác định nghĩa vụ bị đơn. Đồng thời phía bị đơn xin được thanh toán 2.453.000.000 đồng còn lại trong 1,5 năm. Chính vì vậy mới có văn bản viết tay ngày 03/1/2019” (đơn trình bày ngày 25/5/2021).

Hồ sơ vụ án, bị đơn (ông Trọng, bà Dung) không thừa nhận có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn (bà Hằng) và bị đơn (ông Trọng, bà Dung) – như phân tích trên. Lời khai của nguyên đơn (bà Hằng) là căn cứ rất rõ ràng, vào ngày 03/01/2019, không có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nào từ nguyên đơn (bà Hằng) cho bị đơn (ông Trọng, bà Dung). Từ gian dối của nguyên đơn (bà Hằng) và theo phán quyết của Hội đồng xét xử sơ thẩm, nguyên đơn (bà Hằng) đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại (ông Trọng, bà Dung, ông Phẩm, ông Thành) số tiền là: 3.840.000.000 đồng (ba tỷ, tám trăm bốn mươi triệu đồng) – Biên bản định giá tài sản ngày 03/12/2021, khi trở thành chủ sở hữu, sử dụng của thửa đất diện tích đất 452,7 m2, thuộc thửa đất số 87b, tờ bản đồ số 28, tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Sáu là, giá trị giao dịch: 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) được ghi tại Hợp đồng công chứng số 190, quyển số 02TH/2021/TP/CC-SCC/HĐGD giữa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Thành) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung) là chính xác, ngay tình, không có gian dối về giá.

Trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Thành, ông Phẩm) với bị đơn (ông Trọng, bà Dung) của thể hiện rất rõ nội dung: ngày 02/4/2021, bị đơn (ông Trọng, bà Dung) thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Phẩm). Ngay trong ngày, ông Phẩm quyết định sang lại thửa đất cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Thành) để hưởng phần giá trị chênh lệnh. Do đó, Ba bên gồm: ông Trọng, bà Dung – ông Phẩm – ông Thành đã đạt được thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật: ông Trọng, bà Dung hủy hợp đồng chuyển nhượng đã ký với ông Phẩm và chuyển sang ký hợp đồng chuyển nhượng với ông Thành, số tiền ghi trên giao dịch là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Phần giá trị chênh lệch giữa ông Phẩm và ông Thành do hai người thực hiện, không thuộc phạm vi thỏa thuận ba Bên.

Hồ sơ Bản án không có chứng minh giá trị thửa đất tại thời điểm giao dịch ngày 02/4/2021. Trong khi đó, vào ngày 02/4/2021, bị đơn (ông Trọng, bà Dung) thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất cho ông Phẩm, nhưng ngay sau đó, ông Phẩm quyết định nhượng lại thửa đất cho ông Thành để hưởng phần giá trị chênh lệnh. Ba bên gồm ông Trọng, bà Dung – ông Phẩm – ông Thành đã đạt được thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật: bị đơn (ông Trọng, bà Dung) hủy hợp đồng chuyển nhượng (có công chứng) đã ký với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Phẩm) và chuyển sang ký hợp đồng chuyển nhượng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Thành), số tiền ghi trên giao dịch là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Cơ quan thuế sau đó đã ấn định giá: 728.673.000 đồng (ông Trọng, bà Dung đã nộp thuế đầy đủ). Phần giá trị chênh lệch giữa ông Phẩm và ông Thành do hai Bên (ông Phẩm, ông Thành) tự thực hiện, không liên quan tới bị đơn (ông Trọng, bà Dung), cũng không thuộc phạm vi thỏa thuận ba Bên. Như vậy, số tiền giao dịch ghi trên Hợp đồng công chứng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) là chính xác, trung thực.

Bảy là, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định Hợp đồng chuyển nhượng ngày 02/04/2021 giữa bị đơn (ông Trọng, bà Dung) với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Thành) “có sự gian dối về giá” – bằng việc dùng kết quả định giá tài sản vào ngày 03/12/2021 (sau đó 08 (tám) tháng) để áp đặt cho giá giao dịch ngày 02/4/2021 – trong điều kiện năm 2021 giá đất tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La liên tục biến động rất mạnh.

Cụ thể, Bản án sơ thẩm số 09/2022/DS-ST: “… theo Biên bản định giá tài sản ngày 03/12/2021 diện tích đất đang tranh chấp trị giá trị giá 3.840.000.000 đồng. Ông Thành xác định giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế vào ngày 02/4/2021 là 3.400.000.000 đồng, ông Trọng và bà Dung xác định giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất như trong Điều 1 của Hợp đồng ngày 02/4/2021 là 500.000.000 đồng. Như vậy, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi trong Hợp đồng ngày 02/4/2021 là 500.000.000 đồng là không ngay tình”.

“… Ông Hoàng Văn Thành mặc dù đã thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng ông Thành không phải người thứ ba ngay tình do có sự gian dối về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi trong hợp đồng” (dòng 19 trang 19 của Bản án).

Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định về thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng bất động sản: “2- Giá chuyển nhượng bất động sản là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng. (a) Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất là giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai” (Điểm a Khoản 2 Điều 18).

Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính quy định về căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: “1- Giá chuyển nhượng: (a) Giá chuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có công trình xây dựng trên đất là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá hoặc giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng thì giá chuyển nhượng được xác định theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng” (Điểm a Khoản 1 Điều 17).

Như vậy, pháp luật về thuế thu nhập cá nhân quy định, giá theo thuận hoặc giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thì chỉ dẫn đến hậu quả, các Cơ quan thuế chỉ có thẩm quyền ấn định số thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản phải nộp, không dẫn đến hợp đồng vô hiệu.

Tám là, Hội đồng xét xử sơ thẩm đưa ra những kết luận mâu thuẫn, không phù hợp với những tình tiết khách quan, đến mức phi lý, dấu hiệu ra Bản án quyết định trái luật, như:

• Hội đồng xét xử sơ thẩm (căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự) cần phải xem xét, nguyên đơn (bà Hằng) không thể đưa ra được căn cứ chứng minh nguyên đơn (bà Hằng) đã nhờ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) ký hộ hợp đồng với bị đơn (ông Trọng, bà Dung); thì nhận định ngược lại – công nhận giao dịch 03 bên bằng những nhận định: … ông Trọng, bà Dung không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh là bà Hằng nhờ ký hộ” (dòng 29, trang 15 của Bản án), “… việc ký tên vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 08/10/2018 với ông Trọng, bà Dung là do bà Hằng nhờ” (dòng 21, trang 17 của Bản án).

• Bị đơn (ông Trọng, bà Dung) đã phủ nhận, đã trả 247.000.000 đồng cho nguyên đơn (bà Hằng) số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bởi bản chất không có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Trong hồ sơ vụ án không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện điều này thì Hội đồng xét xử lại nhận định: “bà Trần Thu Hằng phải trả ông Phạm Văn Trọng, bà Lê Thùy Dung 247.000.000 đồng” [?].

Chín là, Hội đồng xét xử sơ thẩm ra quyết định vượt quá phạm vi khởi kiện của các đương sự. Cụ thể:

Tại Đơn khởi kiện và các Biên bản hòa giải, phạm vi khởi kiện của bà Trần Thu Hằng chỉ gồm: “(1) Đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 08/10/2018 giữa ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa với ông Phạm Văn Trọng, bà Lê Thùy Dung vô hiệu. (2) Đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 02/04/2021 giữa ông Phạm Văn Trọng, bà Lê Thùy Dung với ông Phạm Văn Thành là vô hiệu; (3) Yêu cầu ông Phạm Văn Trọng và bà Lê Thùy Dung có nghĩa vụ thanh toán nốt số tiền nhận chuyển nhượng đất và tiền lãi do chậm thanh toán cho bà Trần Thu Hằng một lần với tổng số tiền là: 2.667.637.500 đồng (Trong đó: số tiền nhận chuyển nhượng đất chưa thanh toán là: 2.453.000.000 đồng; số tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính kể từ ngày 03/07/2020 cho đến ngày 18/05/2021 (10,5 tháng) là: 214.637.500 đồng). Trường hợp ông Trọng, bà Dung không trả tiền thì yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất 452,7 m2 tại tiểu khu 32, thị trấn Nông Trường Mộc Châu là hợp pháp cho bà Hằng”.

Trong vụ án này, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa) không có yêu cầu độc lập. Thế nhưng, Bản án sơ thẩm số 09/2022/DS-ST quyết định những vấn đề không có tranh chấp giữa bị đơn (ông Trọng, bà Dung) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Dũng, bà Hòa và ông Thành): “1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thu Hằng; 2- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa với bà Trần Thu Hằng ngày 05/04/2017…”.

Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó…”.

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.