Xóa tên chồng cũ trong giấy khai sinh của con có được không?

0
375
5/5 - (1 bình chọn)

Pháp luật hiện nay cũng không có quy định nào cho phép việc tước quyền làm cha trên giấy tờ khai sinh. Vì vậy, không thể xóa bỏ tên chồng cũ trên giấy khai sinh của con, chỉ có thể xóa tên chồng cũ trên giấy khai sinh khi có căn cứ chứng minh chồng cũ không phải cha của đứa trẻ.

Chuyên viên Huỳnh Thu Hương - tư vấn về thủ tục làm căn cước công dân cho người tạm trú
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Xóa tên chồng cũ trong giấy khai sinh của con có được không?

Căn cứ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. 2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.

Vậy Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này. Theo đó nội dung đăng ký khai sinh gồm: Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.

Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật dân sự năm 2015 về Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình ghi nhận: “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình”.

Thêm vào đó, tại khoản 1 điều 25 về Quyền nhân thân quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Do vậy, quyền xác định cha, mẹ là quyền con người, quyền nhân thân hình thành trên mối quan hệ huyết thống, quyền này không thể chuyển giao và cũng không thể bị bác bỏ bởi bất cứ một hành động vi phạm nào từ các phía.

Như vậy, theo các quy định trên, con trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Kể cả trong trường hợp vợ chồng đã được tòa án xử cho ly hôn nhưng pháp luật không tước quyền làm cha của người chồng và Pháp luật hôn nhân gia đình và hộ tịch hiện hành quy định quan hệ giữa cha và con có thể là quan hệ dựa trên yếu tố huyết thống (quan hệ giữa cha đẻ và con đẻ) hoặc dựa trên quan hệ nuôi dưỡng (quan hệ giữa cha nuôi và con nuôi). Vì vậy, nếu muốn xóa tên cha của cháu ra khỏi giấy khai sinh của đứa con thì cần phải có sự đồng ý của bố cháu (người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình). Hơn nữa, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan (viện dẫn theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014).

Pháp luật hiện nay cũng không có quy định nào cho phép việc tước quyền làm cha trên giấy tờ khai sinh. Vì vậy, không thể xóa bỏ tên chồng cũ trên giấy khai sinh của con. Do đó, trường hợp này khi và chỉ khi chồng cũ và con sinh ra không có dòng máu huyêt thống thì mới bỏ thông tin của người cha ra khỏi giấy khai sinh của con.

Thủ tục xóa tên chồng cũ trong giấy khai sinh của con

Trước tiên phải làm thủ tục yêu cầu Tòa án không công nhận đứa bé là con của chồng cũ. Khi có phán quyết của tòa công nhận cháu bé không phải là con của chồng cũ thì lúc đó Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ làm thủ tục cần thiết để xóa tên chồng cũ trong giấy khai sinh của bé.

Thứ hai, người yêu cầu xóa tên nộp tờ khai cải chính thông tin trên giấy khai sinh và đồng thời cung cấp phán quyết của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha con để tiến hành cải chính thông tin trên giấy khai sinh của con mình. Theo đó, người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả – UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch. Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây