Chủ nợ có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ không?

0
495
5/5 - (10 bình chọn)

Vay nợ là giao dịch dân sự khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên nếu chủ nợ dùng vũ lực để đòi tiền sẽ phạm tội “cướp tài sản”; trường hợp uy hiếp, đe dọa để siết nợ là “cưỡng đoạt tài sản”. Vậy chủ nợ có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ không?

Chuyên viên Huỳnh Thu Hương - tư vấn về thủ tục làm căn cước công dân cho người tạm trú
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Chủ nợ có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ không?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu con nợ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hai bên có thể thỏa thuận về hướng giải quyết như gia hạn, miễn, giảm lãi… Trường hợp không thương lượng được, chủ nợ có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền. Người khởi kiện có quyền yêu cầu tòa án kê biên, phong tỏa tài sản của con nợ để tránh việc tẩu tán tài sản, đảm bảo thi hành án sau này cũng như sử dụng các biện pháp khác mà pháp luật không cấm như sử dụng báo chí, truyền thông… Trên thực tế, không phải trường hợp nào bên có quyền (chủ nợ) cũng có cách hành xử phù hợp với quy định của pháp luật. Nhiều trường hợp do nhận thức hạn chế mà chủ nợ vô tình vi phạm pháp luật hoặc nhận thức được hành vi, cách thức đòi nợ là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện (chủ yếu diễn ra trong hoạt động cho vay tín dụng đen) như: đổ chất bẩn; đến khu vực nhà con nợ chửi bới hoặc có hành vi khác gây rối trật tự công cộng nhằm tạo áp lực; tự ý lấy tài sản của con nợ mang đi (siết nợ).

Vậy chủ nợ có quyền giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ không? , theo quy định tại Điều 195 Bộ luật dân sự năm 2015, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật. Như vậy, hành vi tự ý định đoạt tài sản của người vay hay để “siết nợ” là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác. Vì vậy, siết nợ có thể xử lý theo quy định của pháp luật.

Giữ tài sản của người vay tiền để siết nợ, chủ nợ bị xử lý như thế nào?

Việc siết nợ có thể không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để lấy tài sản hoặc đã dùng vũ lực tấn công để lấy tài sản. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, tùy thuộc hành vi siết nợ cụ thể mà việc siết nợ có thể phạm một trong các tội dưới đây:

Trường hợp chủ nợ (hoặc người đại diện thông qua ủy quyền) dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công (có thể là chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) không thể chống cự được như đấm, đá, dùng hung khí khống chế nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cướp tài sản theo điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 quy định, người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Ngoài ra, nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 đến dưới 200 triệu đồng… thì có thể bị phạt tù từ 07 – 15 năm. Trường hợp phạm tội khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%… thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm. Nặng nhất, người phạm tội còn có thể bị phạt tù từ 18 – 20 năm hoặc tù chung thân khi chiếm đoạt tài sản trị giá trên 500 triệu, làm chết người… Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy, nếu chủ nợ thực hiện hành vi cướp tài sản để siết nợ thì có thể bị phạt tù đến 20 năm, phạt tiền đến 100 triệu đồng.

Trường hợp chủ nợ đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần con nợ (kéo nhiều người đến để thị uy) nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể, mức phạt với Tội cưỡng đoạt tài sản là phạt tù từ 01 – 05 năm. Tuy nhiên, người phạm tội còn có thể bị bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng khác như: Phạt tù từ 03 – 10 năm khi chiếm đoạt tài sản từ 50 đến dưới 200 triệu đồng; phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu…; Phạt tù từ 07 – 15 năm khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 đến dưới 500 triệu đồng; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh; Phạt tù từ 12 – 20 năm khi chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên… Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy, trường hợp siết nợ phạm Tội cưỡng đoạt tài sản thì chủ nợ có thể phải đi tù đến 20 năm, phạt tiền đến 100 triệu.

Với hai hành vi trên, pháp luật đều không đòi hỏi tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bao nhiêu trở lên thì mới phạm tội. Do vậy, về nguyên tắc có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc hoặc đe dọa sẽ dùng vũ lực… để chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành. Việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là căn cứ định tội đối với hành vi phạm tội. Tóm lại, chủ nợ khi không đòi được nợ thì cũng không được lấy tài sản để siết nợ. Để đòi nợ đúng luật khi quá hạn, người cho vay chỉ có thể khởi kiện lên Tòa án yêu cầu người vay trả nợ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây