Năng lực hành vi dân sự của cá nhân, điều kiện tham gia giao dịch dân sự

0
161
Đánh giá

Bên cạnh năng lực pháp luật thì cá nhân còn tồn tại năng lực hành vi dân sự. Bài viết dưới đây sẽ trình bày về vấn đề năng lực hành vi dân sự của cá nhân.

nang-luc-hanh-vi-dan-su-cua-ca-nhan-dieu-kien-de-tham-gia-vao-giao-dich-dan-su
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực được nêu trên, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là gì?

Bên cạnh năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân thì tư cách chủ thể của cá nhân còn được ghi nhận với thuộc tính năng lực hành vi dân sự.

Loại năng lực này không hiển nhiên có từ khi sinh ra như năng lực pháp luật mà chỉ được pháp luật thừa nhận khi cá nhân có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nếu năng lực pháp luật dân sự là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi sẽ là khả năng hành động của chính chủ thể đó để tạo ra các quyền nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Điều này đồng nghĩa với việc khi cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì phải tự chịu trách nhiệm dân sự về hành vi của mình khi vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định như thế nào?

Người thành niên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015 thì một người được xem là thành niên khi đủ mười tám tuổi trở lên.

Theo đó, người thành niên sẽ được thừa nhận năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự chịu trách nhiệm đối với các hành vi của mình trong quan hệ dân sự phát sinh.

Tuy nhiên, pháp luật quy định một số trường hợp loại trừ, nghĩa là một số đối tượng đã đủ 18 tuổi nhưng không được công nhận có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cụ thể, là mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Người chưa thành niên

Nếu như người thành niên có toàn bộ năng lực hành vi dân sự thì người chưa thành niên sẽ được pháp luật ghi nhận có một phần năng lực hành vi dân sự.

Người chưa thành niên là cá nhân chưa đủ mười tám tuổi. Pháp luật chia ra các độ tuổi như sau:

  • Đối với người chưa thành niên, chưa đủ sáu tuổi thì giao dịch dân sự của đối tượng này sẽ do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
  • Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập  giao dịch dân sự thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  • Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập giao dịch dân sự, trừ những giao dịch dân sự liên quan đến động sản phải đăng ký, bất động sản, các giao dịch dân sự khác theo quy định của luật thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Người mất năng lực hành vi dân sự

Pháp luật quy định một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Lưu ý: Để khắng định một người bị mất năng lực hành vi dân sự phải bao gồm đầy đủ các yếu tố sau: (1)bị bệnh tậm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không thể làm chủ hành vi (2) được tòa án ra quyết định người đó mất năng lực hành vi, (3) trên cơ sở của kết luận giám định pháp y về tâm thần.

Một người có thể hồi phục năng lực hành vi dân sự khi được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.

Trong thời gian người mất năng lực hành vi dân sự bị mất năng lực hành vi dân sự có phát sinh giao dịch dân sự thì sẽ do người đại diện của người đó thực hiện.

Xem thêm: Thủ tục tuyên bố người mất năng lực hành vi

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Đối tượng là người thành niên mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự do tình trạng thể chất hoặc tinh thần.

Khi đó đối tượng trên được Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.  Đồng thời, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ xác định quyền nghĩa vụ của người đó.

Một người có thể hồi phục năng lực hành vi dân sự khi được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố có khó khăn trong nhân thức làm chủ hành vi trên cơ sở yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.

Bạn đọc tham khảo thêm thủ tục về vấn đề này tại đây

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Đối tượng là người nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Lưu ý: đối tượng trên phải là nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích là nguyên nhân dẫn đến kết quả là phá tán tài sản của gia đình và được Tòa án ra quyết định tuyên bố là hạn chế năng lực hành vi dân sự

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện. Việc thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

Cũng giống như trường hợp mất năng lực hành vi dân sự và có khó khăn trong nhân thức làm chủ hành vi thì một người có thể hồi phục năng lực hành vi dân sự khi được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự trên cơ sở yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.

Tìm hiểu thêm về thủ tục tuyên bố hạn chế năng lực hành vi

Một số câu hỏi thường gặp

– Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân có phát sinh cùng một thời điểm không?

Năng lực pháp luật của cá nhân phát sinh kể từ thời điểm cá nhân đó sinh ra và được pháp luật thừa nhận đầy đủ quyền và nghĩa vụ kể từ thời điểm đó. Năng lực hành vi dân sự cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân được ghi nhận đầy đủ đối với người trên 18 tuổi và được ghi nhận một phần đối với người chưa thành niên.

Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân không phát sinh cùng một thời điểm. Năng lực pháp luật của cá nhân sẽ được phát sinh trước năng lực hành vi dân sự.

Xem thêm: Phân biệt năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

– Người mất năng lực hành vi dân sự có được bầu cử không?

Theo quy định tại Điều 37 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân năm 2015 thì người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không được bầu cử.

– Người mất năng lực hành vi dân sự có được thừa kế không?

Pháp luật quy định việc thừa kế đối với người mất năng lực hành vi dân sự sẽ người giám hộ khi thực hiện các giao dịch dân sự. Việc này nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ đồng thời phải đáp ứng quy định về phạm vi đại diện mà pháp luật cho phép.

– Người mất năng lực hành vi dân sự có được kết hôn không?

Theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì điều kiện kết hôn gồm:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện;
  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  • Không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn.

Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành thì người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không đủ điều kiện để kết hôn. Bởi vì, mục đích lớn nhất của hôn nhân được nhà nước bảo vệ là hôn nhân phải đảm bảo hạnh phúc gia đình, người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không đảm bảo được yếu tố đó.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm các nội dung liên quan: Chia sẻ kiến thức pháp luật

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn