Tình tiết tăng nặng giảm nhẹ – Căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt

0
125
Đánh giá

Khi quyết định hình phạt, Toà án không chỉ căn cứ vào hành vi của người phạm tội mà còn cân nhắc đến nhiều yếu tố khác. Trong đó, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.

Tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự - căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt
Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đai tư vấn (24/7): 1900 6198

Quy định về tình tiết giảm nhẹ

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì?

Các tình tiết giảm nhẹ là những tình tiết có thể làm giảm đi mức nguy hiểm của hành vi, phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội. Bên cạnh đó, một số tình tiết giảm nhẹ còn phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội. Căn cứ vào đó, tòa án có thể giảm nhẹ mức hình phạt đáng ra phải áp dụng với người phạm tội.

Theo đó, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định 22 tình tiết giảm nhẹ bao gồm:

(i) Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

(ii) Phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

(iii) Phạm tội do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

(iv) Phạm tội do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

(v) Phạm tội do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

(vi) Phạm tội do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải mình tự gây ra;

(vii) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại nhưng hậu quả không lớn;

(viii) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

(ix) Phạm tội do bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức;

(x) Phạm tội khi bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

(xi) Phạm tội do lạc hậu;

(xii) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

(xiii) Người phạm tội là người đủ bảy mươi tuổi trở lên;

(xiv) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;

(xv) Người phạm tội là người có bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

(xvi) Người phạm tội đã tự thú;

(xvii) Người phạm tội đã thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

(xviii) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm

(xix) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

(xx) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

(xxi) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng;

(xxii) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

Ngoài ra, bạn đọc có thể xem thêm một số bài viết liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác 

Hình phạt đối với người có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự,
“Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”
Như vậy, khi người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định nhưng nó phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
Trường hợp người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ nhưng chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt mà người đó phải chịu là khung thấp nhất của Điều luật thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Theo đó, khi có tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp trên, Tòa án phải ghi rõ lý do trong bản án.

Quy định về tình tiết tăng nặng

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là gì?

Khác với tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết có thể làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 

Theo Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, mười lăm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được pháp luật Việt Nam thừa nhận bao gồm:

(i) Phạm tội có tổ chức;

(ii) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

(iii) Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để phạm tội;

(iv) Phạm tội có tính chất côn đồ;

(v) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

(vi) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

(vii) Phạm tội hai lần trở lên;

(viii) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

Xem thêm: Tái phạm và tái phạm nguy hiểm

(ix) Phạm tội đối với người dưới mười sáu tuổi, phụ nữ có thai, người đủ bảy mươi tuổi trở lên;

(x) Phạm tội đối với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng hoặc với người đang trong tình trạng không thể tự vệ được; người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người có sự lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

(xi) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh,  thiên tai, dịch bệnh,… hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

(xii) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;

(xiii) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hiểm, nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

(xiv) Xúi giục người dưới mười tám tuổi phạm tội;

(xv) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các luật sư, chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.