Trộm tiền giả có phải chịu trách nhiệm không?

0
593
5/5 - (9 bình chọn)

Hành vi phạm tội là hành vi do một hoặc một số chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, có tính chất gây nguy hiểm cho xã hội. Việc trộm tiền giả có phải chịu trách nhiệm không hiện nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đai tư vấn (24/7): 1900 6198

Trộm tiền giả có phải chịu trách nhiệm không?

Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi trộm cắp tiền giả. Trong đó có quan điểm cho rằng: người thực hiện trộm cắp tiền giả phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển lưu hành tiền giả theo quy định tại Điều 207 Bộ luật hình sự năm 2015. Có quan điểm khác đưa ra: Trường người trộm cắp tiền giả phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 mới chính xác. Một số khác lại cho rằng nếu xét theo nguyên tắc suy đoán vô tội hoặc theo yếu tố lỗi thì chưa đủ căn cứ kết tội.

Trộm tiền giả có thể chịu tội gì?

Tội làm, tàng trữ, vận chuyển lưu hành tiền giả

Đối với quan điểm cho rằng người trộm tiền giả phạm tội “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” theo Điều 207, Bộ luật Hình sự năm 2015, theo quan điểm của Luật sư, mặc dù người trộm tiền giả có hành vi tàng trữ được xác định là tiền giả, nhưng xét ở mặt chủ quan của tội phạm thì về yếu tố lỗi của tội “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”, chủ thể phải biết đó là tiền giả. Trong trường hợp người trộm tiền không biết đó là tiền giả, không thể cho rằng họ phạm tội “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”.

Khi xác định một người có phạm tội này hay không bắt buộc phải chứng minh được họ khi thực hiện hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả với lỗi cố ý, tức là họ phải nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Một người trộm tiền nhưng hoàn toàn không biết nó là tiền giả, trong nhận thức của người trộm tiền cho rằng đây là tiền thật. Do đó, theo Luật sư không đủ căn cứ để kết tội phạm tội theo quy định tại Điều 207, Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015

Trường hợp cho rằng người trộm tiền giả phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo quan điểm Luật sư, ý kiến này là không đúng, bởi lẽ: (1) Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản.“Tội trộm cắp tài sản”- Với tội danh này, đối tượng tác động của hành vi dứt khoát phải là tài sản.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, tiền giả không phải là tài sản. Hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển lưu hành tiền giả bị nghiêm cấm. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả quy định tại Điều 207 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, quyền sở hữu tiền giả không được pháp luật bảo hộ.

Vậy nên không đủ căn cứ chứng minh người trộm tiền giả phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015.

Khách thể của tội xâm phạm chỗ ở của người khác là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Quyền này được ghi nhận tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013. Đối tượng tác động của tội phạm này là chỗ ở của người khác. Xét về mặt khách quan thì A có hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015. Mặc dù người trộm tiền giả có hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác nhưng không gây ra hậu quả làm cho người khác bị mất chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của họ và các thành viên trong gia đình họ hoặc gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại.

Về mặt chủ quan, tội xâm phạm chỗ ở của người khác được thực hiện với lỗi cố ý Trong khi đó, mục đích của người trộm tiền giả là chiếm đoạt tài sản. Do đó, có thể khẳng định đối với tình huống nêu trong bài viết thì hành vi của người trộm tiền giả không cấu thành tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về suy đoán vô tội.Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.Như vậy, trong trường hợp này theo ý kiến của Luật sư, người trộm tiền giả không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với người bị trộm tiền giả

Chủ nhân căn nhà có thể sẽ phải chịu trách nhiệm Hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả. Theo Điều 207 Bộ luật hình sự năm 2015: Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thì: “1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng,thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm”.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây