Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì? Dấu hiệu của tội này?

0
63
Đánh giá

Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm đến quyền sở hữu. Vậy công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì và pháp luật hình sự đã có quy định gì để ngăn chặn hành vi này xảy ra? Cấu thành tội phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì? Dấu hiệu của tội này?
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hình sự, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì? Ví dụ tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai lấy của người khác trước sự chứng kiến của họ hoặc người đang quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất kỳ hành vi nào nhằm uy hiếp người đang giữ tài sản.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được phân biệt với các tội xâm phạm quyền sở hữu khác vì hành vi phạm tội được thực hiện công khai. Yếu tố công khai được thể hiện khi người thực hiện không hề giấu và người giữ tài sản biết rõ tài sản bị lấy đi nhưng không dám ngăn cản hoặc không đủ khả năng ngăn cản việc chiếm tài sản.

Ví dụ về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 

Ví dụ, chị A đang đi trên đường thì đột nhiên bị chóng mặt nên chị dừng lại để nghỉ ngơi một chút. Chị dựng xe sát vỉa hè và ngồi nghỉ ở ghế đá gần đó. Nhân cơ hội này, anh B chạy lại bẻ khóa xe và lấy xe đi. Chị A nhìn thấy nhưng vì chóng mặt mà không thể ngăn cản hành vi của anh B. Trong trường hợp này, hành vi của anh B là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Quy định của pháp luật về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Theo Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, người nào bị kết án về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thuộc một trong các trường hợp sau sẽ bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng 
  • hoặc tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng tội phạm:
  • đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm, hay
  • đã bị kết án về tội này hoặc cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; hay 
  • gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 
  • tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Nếu người phạm tội trong các trường hợp sau thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm tù:

  • tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  • hành hung để tẩu thoát; 
  • tái phạm nguy hiểm ( Xem thêm: tái phạm nguy hiểm là như thế nào?)
  • chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ.

Trong trường hợp giá trị tài sản bị lấy từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để thực hiện tội phạm này thì phải chịu hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. 

Nghiêm trọng hơn là trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị trên 500.000.000 đồng hay lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, tội phạm phải chịu phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Phân biệt tội cướp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Giống nhau

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội cướp tài sản thường bị nhầm lẫn với nhau. Vì hai tội phạm này đều mang yếu tố công khai thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. 

Khác nhau: 

Tuy nhiên, hai hành vi này có nhiều điểm có thể phân biệt được: 

Đặc điểm Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Tội cướp tài sản 
Cơ sở pháp lý Điều 172 Bộ luật Hình sự hiện hành  Điều 168 Bộ luật Hình sự hiện hành 
Chủ thể của tội phạm  Người từ đủ 16 tuổi và có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình.  Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với mức tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu mọi hình phạt tương ứng theo quy định. 

Và người phạm tội có  đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Mặt khách quan Người phạm tội lấy tài sản bằng việc lợi dụng sự không phản kháng hoặc không thể phản kháng của người bị hại. 

Tội phạm hoàn thành khi tài sản bị chiếm đoạt. 

Người phạm tội lấy tài sản bằng dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. 

Không yêu cầu hậu quả, chỉ cần tội phạm thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác để lấy tài sản là đủ điều kiện kết tội. 

 

Tìm hiểu thêm các quy định của pháp luật hình sự tại Pháp trị.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn